Rút đơn yêu cầu khởi tố là quyền của bị hại trong một số vụ án hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của chính họ. Khi rút đúng luật, vụ án phải được đình chỉ; nhưng người rút đơn cũng phải chịu những hậu quả pháp lý không thể đảo ngược.
TÓM TẮT NHANH
- Rút đơn yêu cầu khởi tố chỉ có hiệu lực với 9 tội tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 Bộ luật Hình sự.
- Khi người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, vụ án phải được đình chỉ ở bất kỳ giai đoạn nào, trừ trường hợp bị ép buộc, cưỡng bức.
- Đã rút thì không được yêu cầu lại; bị hại phải chịu án phí khi vụ án bị đình chỉ vì lý do này.
- Với các tội khác, đơn bãi nại không làm đình chỉ vụ án mà chỉ có thể được Tòa án xem xét là tình tiết giảm nhẹ.
1. Rút đơn yêu cầu khởi tố là gì?
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đa số vụ án hình sự được khởi tố khi có dấu hiệu tội phạm, không phụ thuộc ý muốn của bị hại. Riêng một nhóm tội ít nghiêm trọng xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, pháp luật chỉ cho khởi tố khi bị hại hoặc người đại diện của bị hại có yêu cầu.
Rút đơn yêu cầu khởi tố là việc chính người đã yêu cầu khởi tố đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng không tiếp tục xử lý hình sự vụ việc. Quy định này tôn trọng ý chí của bị hại khi hai bên muốn tự hòa giải.
Phân biệt rút đơn yêu cầu khởi tố và bãi nại
Trong đời sống, người dân thường gọi chung là “bãi nại”. Tuy nhiên, về pháp lý cần tách bạch: rút đơn yêu cầu khởi tố đúng nghĩa chỉ áp dụng cho nhóm tội khởi tố theo yêu cầu của bị hại và dẫn đến đình chỉ vụ án; còn đơn bãi nại ở các tội khác chỉ thể hiện ý chí xin giảm nhẹ cho người phạm tội.
2. Chín tội được khởi tố theo yêu cầu của bị hại
Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, đã được sửa đổi bởi Luật 02/2021/QH15 (hiệu lực từ 01/12/2021), quy định chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm tại khoản 1 của 9 điều sau trong Bộ luật Hình sự 2015 khi có yêu cầu của bị hại:
| Điều BLHS (khoản 1) | Tên tội |
|---|---|
| Điều 134 | Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác |
| Điều 135 | Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh |
| Điều 136 | Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội |
| Điều 138 | Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác |
| Điều 139 | Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính |
| Điều 141 | Hiếp dâm |
| Điều 143 | Cưỡng dâm |
| Điều 155 | Làm nhục người khác |
| Điều 156 | Vu khống |
Lưu ý: Trước ngày 01/12/2021, danh sách này còn có tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 BLHS). Luật 02/2021/QH15 đã bỏ tội này khỏi danh sách, vì vậy hiện nay rút đơn yêu cầu khởi tố trong vụ án xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp không làm đình chỉ vụ án.
Điều kiện quan trọng là hành vi chỉ thuộc khoản 1 của các điều trên. Ví dụ, với tội cố ý gây thương tích, khoản 1 Điều 134 áp dụng khi tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% (hoặc dưới 11% nhưng thuộc trường hợp luật định), khung hình phạt đến 03 năm tù. Chi tiết xem bài tội cố ý gây thương tích.
3. Khi nào được rút đơn yêu cầu khởi tố?
Việc rút đơn yêu cầu khởi tố có hiệu lực khi đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
- Vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại về tội tại khoản 1 của một trong 9 điều nêu trên.
- Người rút chính là người đã yêu cầu khởi tố: bị hại, hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất hoặc đã chết.
- Việc rút xuất phát từ ý chí tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng bức.
Pháp luật không giới hạn thời điểm rút: người đã yêu cầu có thể rút đơn yêu cầu khởi tố trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và cả giai đoạn phúc thẩm. Quy trình tiếp nhận tố giác, khởi tố vụ án xem tại bài quy trình khởi tố vụ án hình sự.
Trường hợp không được rút
Nếu hành vi thuộc khoản 2 trở lên của các điều trên hoặc thuộc tội danh khác, vụ án vẫn được giải quyết dù bị hại rút đơn; khi đó đơn chỉ có ý nghĩa như đơn bãi nại.
4. Năm hậu quả pháp lý của việc rút đơn yêu cầu khởi tố
- Vụ án phải được đình chỉ: khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định khi người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ.
- Không được yêu cầu lại: theo khoản 3 Điều 155, bị hại hoặc người đại diện đã rút đơn yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút do bị ép buộc, cưỡng bức.
- Bị hại phải chịu án phí: khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại bị đình chỉ vì căn cứ tại khoản 2 Điều 155 thì bị hại phải trả án phí.
- Người bị buộc tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đó, không có tiền án.
- Phần dân sự: thỏa thuận bồi thường giữa các bên vẫn có giá trị nếu tự nguyện, hợp pháp; nếu chưa giải quyết, bị hại có thể yêu cầu theo thủ tục dân sự.
GỌI NGAY 0362.296.939 – TƯ VẤN RÚT ĐƠN YÊU CẦU KHỞI TỐ

5. Rút đơn yêu cầu khởi tố ở từng giai đoạn tố tụng
Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ phụ thuộc vào thời điểm bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố:
| Giai đoạn | Cơ quan giải quyết | Kết quả | Căn cứ |
|---|---|---|---|
| Điều tra | Cơ quan điều tra | Quyết định đình chỉ điều tra | Điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS |
| Truy tố | Viện kiểm sát | Quyết định không truy tố và đình chỉ vụ án | Khoản 1 Điều 248 BLTTHS |
| Chuẩn bị xét xử sơ thẩm | Thẩm phán chủ tọa phiên tòa | Quyết định đình chỉ vụ án | Điểm a khoản 1 Điều 282 BLTTHS |
| Tại phiên tòa sơ thẩm | Hội đồng xét xử | Quyết định đình chỉ vụ án | Khoản 2 Điều 155 BLTTHS; Công văn 254/TANDTC-PC |
| Phúc thẩm | Hội đồng xét xử phúc thẩm | Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án | Khoản 2 Điều 155 BLTTHS; Công văn 254/TANDTC-PC |
Nếu đã xét xử sơ thẩm và còn thời hạn kháng cáo, Công văn 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 hướng dẫn Tòa án hướng dẫn người đã yêu cầu khởi tố làm đơn kháng cáo để cấp phúc thẩm xem xét việc rút đơn yêu cầu khởi tố.
Lưu ý: Công văn 254/TANDTC-PC là văn bản giải đáp nghiệp vụ, không phải văn bản quy phạm pháp luật; thực tiễn còn nhiều quan điểm về việc rút ở giai đoạn phúc thẩm.
6. Bị ép buộc rút đơn yêu cầu khởi tố thì sao?
Nếu có căn cứ xác định việc rút đơn yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của bị hại do bị ép buộc, cưỡng bức, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Khi đó, bị hại vẫn giữ quyền yêu cầu lại. Bị hại bị đe dọa nên trình báo ngay với cơ quan đang giải quyết vụ án và giữ lại tin nhắn, ghi âm, người làm chứng.
7. Bãi nại ở các tội không thuộc Điều 155 có tác dụng gì?
Với các tội như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, gây tai nạn giao thông, việc khởi tố không phụ thuộc yêu cầu của bị hại. Vì vậy, đơn bãi nại không làm đình chỉ vụ án, nhưng vẫn có ý nghĩa quan trọng:
- Theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án. Đơn xin giảm nhẹ của bị hại thường được xem xét theo khoản này.
- Nếu người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, họ được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Cách tính các khoản bồi thường khi thương lượng với người phạm tội, xem bài bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự.
8. Thủ tục rút đơn yêu cầu khởi tố và ví dụ thực tế
Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định mẫu đơn bắt buộc. Thực tiễn, bị hại thường thực hiện như sau:
- Làm đơn rút yêu cầu khởi tố, ghi rõ họ tên, địa chỉ, vụ việc, cơ quan đang thụ lý, nêu rõ việc rút là tự nguyện; tự ký tên.
- Nộp trực tiếp tại cơ quan đang giải quyết (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án nhân dân khu vực); có thể trình bày trực tiếp tại phiên tòa.
- Cơ quan tiến hành tố tụng lấy lời khai, lập biên bản để xác minh ý chí tự nguyện trước khi ra quyết định đình chỉ.
Ví dụ tại Hưng Yên
Anh H. và anh T. ở Hưng Yên xô xát, anh T. bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 14%. Anh T. yêu cầu khởi tố, cơ quan điều tra khởi tố vụ án theo khoản 1 Điều 134.
Sau đó, anh H. xin lỗi, bồi thường đầy đủ và anh T. tự nguyện rút đơn yêu cầu khởi tố. Vụ án được đình chỉ; anh T. không thể yêu cầu khởi tố lại về hành vi này.
Nếu kết quả giám định lại xác định tỷ lệ tổn thương thuộc khoản 2 Điều 134, việc rút đơn yêu cầu khởi tố không còn làm đình chỉ vụ án; việc bồi thường khi đó chỉ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ.
9. Câu hỏi thường gặp về rút đơn yêu cầu khởi tố
Rút đơn yêu cầu khởi tố rồi có đổi ý được không?
Không. Người đã rút đơn yêu cầu khởi tố không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp chứng minh được việc rút là do bị ép buộc, cưỡng bức.
Nhận tiền bồi thường có bắt buộc phải rút đơn không?
Không bắt buộc. Bồi thường và rút đơn yêu cầu khởi tố là hai vấn đề độc lập; bị hại có quyền nhận bồi thường mà vẫn giữ yêu cầu xử lý hình sự.
Bị hại dưới 18 tuổi thì ai được rút đơn?
Người đại diện của bị hại đã yêu cầu khởi tố là người có quyền rút yêu cầu.
10. Dịch vụ luật sư hình sự tại Luật Phúc Khánh
Luật Phúc Khánh hỗ trợ khách hàng tại Hưng Yên và Thái Bình (cũ): tư vấn có nên rút đơn yêu cầu khởi tố hay không; soạn đơn, thỏa thuận bồi thường; bảo vệ quyền lợi bị hại; bào chữa, tư vấn khắc phục hậu quả để người bị buộc tội được hưởng tình tiết giảm nhẹ.
Chúng tôi không cam kết kết quả vụ việc, nhưng cam kết tư vấn đúng pháp luật và tận tâm.
GỌI NGAY 0362.296.939 – LUẬT SƯ HÌNH SỰ HƯNG YÊN
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (Luật 101/2015/QH13): Điều 136 khoản 3, Điều 155, Điều 157 khoản 8, Điều 230, Điều 248, Điều 282.
- Luật 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa khoản 1 Điều 155 và khoản 8 Điều 157), hiệu lực từ 01/12/2021.
- Luật 99/2025/QH15 sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự, hiệu lực từ 01/7/2025 (không sửa các điều nêu trên).
- Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung: Điều 51, Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156.
- Công văn 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao (giải đáp nghiệp vụ về rút yêu cầu khởi tố).
Người viết: Hoàng Ngọc Hưng – Công ty Luật TNHH Phúc Khánh
Hotline/Zalo: 0362.296.939 – Nhắn Zalo
Địa chỉ: 61 Chùa Đông, phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên
Bài viết mang tính tham khảo tại thời điểm đăng tải (13/10/2026). Quy định pháp luật có thể thay đổi; vui lòng liên hệ luật sư để được tư vấn cho trường hợp cụ thể.

