Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xâm phạm sở hữu phổ biến nhất hiện nay, đặc biệt dưới hình thức lừa đảo qua mạng, giả danh cơ quan nhà nước, hứa hẹn “việc nhẹ lương cao” hoặc đầu tư tài chính. Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể bị phạt tù đến 20 năm hoặc tù chung thân. Bài viết dưới đây phân tích dấu hiệu pháp lý, 4 khung hình phạt theo Điều 174 Bộ luật Hình sự, cách phân biệt với các tội danh gần giống và việc cần làm ngay khi bị lừa đảo.
1. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì?
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác, khiến người bị hại tin là thật và tự nguyện giao tài sản.
2. Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
2.1. Khách thể
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
2.2. Mặt khách quan
- Có hành vi gian dối: đưa ra thông tin sai sự thật (giả danh công an, ngân hàng; làm giả giấy tờ; hứa xin việc, chạy án; mời đầu tư lợi nhuận cao…).
- Người bị hại tin là thật và tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội.
- Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp luật định.
Điểm mấu chốt: thủ đoạn gian dối phải có trước khi người phạm tội nhận được tài sản. Nếu nhận tài sản hợp pháp rồi mới nảy sinh ý định chiếm đoạt thì có thể cấu thành tội khác.
2.3. Mặt chủ quan
Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích là chiếm đoạt tài sản.
2.4. Chủ thể
Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015).
3. Khung hình phạt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174

| Khung | Trường hợp | Hình phạt |
|---|---|---|
| Khoản 1 | Tài sản từ 2 triệu đến dưới 50 triệu đồng; hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp luật định | Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm |
| Khoản 2 | Có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; tài sản từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng; tái phạm nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa cơ quan, tổ chức; dùng thủ đoạn xảo quyệt | Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm |
| Khoản 3 | Tài sản từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng; lợi dụng thiên tai, dịch bệnh | Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm |
| Khoản 4 | Tài sản từ 500 triệu đồng trở lên; lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp | Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân |
Hình phạt bổ sung (khoản 5 Điều 174): phạt tiền từ 10 triệu đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Trường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này hoặc các tội tại Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
4. Phân loại tội phạm và thời hiệu truy cứu
Căn cứ Điều 9 và Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được phân loại như sau:
- Khoản 1 Điều 174: tội phạm ít nghiêm trọng, thời hiệu truy cứu 05 năm;
- Khoản 2: tội phạm nghiêm trọng, thời hiệu 10 năm;
- Khoản 3: tội phạm rất nghiêm trọng, thời hiệu 15 năm;
- Khoản 4: tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hiệu 20 năm.
5. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội danh gần giống
| Tội danh | Điểm khác biệt chính |
|---|---|
| Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) | Nhận tài sản hợp pháp (vay, mượn, thuê…) rồi mới dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt |
| Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290) | Chiếm đoạt thông qua việc can thiệp vào hệ thống (truy cập trái phép tài khoản, làm giả thẻ ngân hàng…), không phải do người bị hại tự nguyện giao |
| Tranh chấp dân sự (vay nợ) | Không có thủ đoạn gian dối từ đầu, người vay vẫn thừa nhận nghĩa vụ trả nợ; giải quyết bằng khởi kiện dân sự |
6. Bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần làm gì?
- Thu thập, lưu giữ chứng cứ: đây là bước quan trọng nhất khi tố giác lừa đảo chiếm đoạt tài sản, gồm tin nhắn, cuộc gọi, sao kê chuyển khoản, giấy tờ, hình ảnh, tài khoản mạng xã hội của đối tượng.
- Liên hệ ngân hàng đề nghị phong tỏa, tra soát giao dịch ngay khi phát hiện.
- Làm đơn tố giác tội phạm gửi Công an cấp xã nơi gần nhất hoặc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên (Điều 144, Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015).
- Theo dõi kết quả giải quyết: thời hạn giải quyết tố giác là 20 ngày, trường hợp phức tạp có thể kéo dài đến 02 tháng và gia hạn thêm không quá 02 tháng (Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015).
Sau khi khởi tố, thời hạn điều tra được thực hiện theo quy định tại bài thời hạn điều tra vụ án hình sự.
7. Tình tiết giảm nhẹ và khả năng được hưởng án treo
Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu có các tình tiết tại Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, như: tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả (điểm b khoản 1); thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1); người bị hại có đơn xin giảm nhẹ (khoản 2).
Trường hợp bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt và nhiều tình tiết giảm nhẹ, người phạm tội có thể được xem xét cho hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (sửa đổi bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP). Xem thêm bài án treo và điều kiện được hưởng án treo.
8. Câu hỏi thường gặp
Vay tiền không trả có phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?
Không đương nhiên. Chỉ cấu thành tội phạm khi có thủ đoạn gian dối từ trước khi vay (ví dụ: dùng giấy tờ giả, thông tin giả) hoặc có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Đã trả lại tiền cho người bị hại thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Vẫn có thể bị truy cứu vì tội phạm đã hoàn thành khi chiếm đoạt được tài sản. Việc bồi thường là tình tiết giảm nhẹ.
Người bị hại rút đơn thì vụ án có dừng lại không?
Không. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
9. Luật sư bào chữa, bảo vệ quyền lợi trong vụ án lừa đảo tại Hưng Yên
- Tư vấn, soạn đơn tố giác, bảo vệ quyền lợi người bị hại, yêu cầu bồi thường;
- Bào chữa cho người bị buộc tội từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử;
- Hỗ trợ thủ tục bảo lĩnh, kháng cáo bản án hình sự.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15;
- Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13;
- Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, sửa đổi bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP.
Liên hệ tư vấn
Người viết: Hoàng Ngọc Hưng – Công ty Luật TNHH Phúc Khánh
Hotline/Zalo: 0362.296.939
Địa chỉ: 61 Chùa Đông, phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên
Bài viết mang tính tham khảo tại thời điểm đăng tải. Để được tư vấn cho trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ Luật Phúc Khánh.

