Ly hôn khi không biết địa chỉ của chồng hoặc vợ là tình huống nhiều người gặp phải khi người kia bỏ đi làm ăn xa, cắt liên lạc nhiều năm. Pháp luật có hai hướng giải quyết: khởi kiện ly hôn theo địa chỉ cuối cùng nếu người đó cố tình giấu địa chỉ, hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích rồi giải quyết cho ly hôn.
TÓM TẮT NHANH
- Nếu vợ, chồng cố tình giấu địa chỉ, Tòa án vẫn thụ lý đơn ly hôn theo địa chỉ cuối cùng.
- Nếu biệt tích 02 năm liền trở lên, có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích.
- Vợ, chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
- Lệ phí yêu cầu tuyên bố mất tích: 300.000 đồng; thời gian thông báo tìm kiếm: 04 tháng.
1. Ly hôn khi không biết địa chỉ có được không?
Có. Ly hôn khi không biết địa chỉ hoàn toàn có thể thực hiện; pháp luật không buộc người khởi kiện phải biết chính xác nơi ở hiện tại của vợ, chồng. Tùy từng trường hợp, người có nhu cầu có thể lựa chọn một trong hai hướng dưới đây, căn cứ vào Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
| Tiêu chí | Khởi kiện theo địa chỉ cuối cùng | Tuyên bố mất tích rồi ly hôn |
|---|---|---|
| Khi nào áp dụng | Người kia vẫn liên lạc được gián tiếp, cố tình thay đổi chỗ ở, giấu địa chỉ | Biệt tích 02 năm liền, không có tin tức sống hay chết |
| Căn cứ | Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP | Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình |
| Thời gian | Theo thủ tục ly hôn đơn phương | Thêm thời gian tuyên bố mất tích (thông báo tìm kiếm 04 tháng) |
| Hệ quả | Bản án ly hôn | Quyết định tuyên bố mất tích và bản án hoặc quyết định cho ly hôn |
2. Ly hôn khi vợ, chồng cố tình giấu địa chỉ
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nếu người khởi kiện đã ghi đầy đủ, đúng địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của người bị kiện mà người bị kiện thay đổi nơi cư trú, không thông báo cho người khởi kiện, Tòa án được coi là trường hợp người bị kiện cố tình giấu địa chỉ.
Khi đó, Tòa án không trả lại đơn khởi kiện mà thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Nếu người bị kiện đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt, Tòa án có thể xét xử vắng mặt. Đây là cách ly hôn khi không biết địa chỉ phổ biến nhất trong thực tiễn, vì không phải chờ đủ 02 năm biệt tích.
Cần chuẩn bị gì?
- Xác nhận của công an xã, phường hoặc thông tin cư trú thể hiện địa chỉ cuối cùng của vợ, chồng.
- Tài liệu chứng minh người kia đã bỏ đi, không thông báo nơi ở mới (xác nhận của thôn, tổ dân phố, người làm chứng).
- Tin nhắn, cuộc gọi, chuyển khoản cho thấy người đó vẫn còn liên lạc nhưng không cung cấp địa chỉ.
Hồ sơ, trình tự ly hôn khi không biết địa chỉ theo hướng này giống ly hôn đơn phương, xem tại bài thủ tục giải quyết ly hôn theo yêu cầu một bên.
GỌI NGAY 0362.296.939 – TƯ VẤN LY HÔN KHI KHÔNG BIẾT ĐỊA CHỈ

3. Ly hôn khi không biết địa chỉ: tuyên bố mất tích
Theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, điều kiện đầu tiên là một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nếu vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết, thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng thì tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
Ly hôn với người bị tuyên bố mất tích
Theo khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Như vậy, khi đã có quyết định tuyên bố mất tích, việc ly hôn khi không biết địa chỉ gần như được bảo đảm về mặt căn cứ.
4. Thủ tục yêu cầu tuyên bố mất tích
- Nộp đơn yêu cầu: tại Tòa án nhân dân khu vực nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất tích cư trú cuối cùng, kèm chứng cứ về việc biệt tích 02 năm liền và việc đã thông báo, tìm kiếm.
- Nộp lệ phí: 300.000 đồng theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
- Thông báo tìm kiếm: Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích; thời hạn thông báo là 04 tháng.
- Mở phiên họp: hết thời hạn thông báo mà không có tin tức, Tòa án mở phiên họp xét đơn và ra quyết định tuyên bố mất tích.
- Yêu cầu ly hôn: trên cơ sở quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực, người vợ hoặc chồng nộp đơn ly hôn.
Vì vậy, ly hôn khi không biết địa chỉ theo hướng tuyên bố mất tích mất thêm thời gian: riêng thủ tục tuyên bố mất tích thường khoảng 5 tháng hoặc hơn, tùy tình trạng hồ sơ và lịch làm việc của Tòa án.
5. Hồ sơ ly hôn khi không biết địa chỉ
| Giấy tờ | Dùng cho |
|---|---|
| Đơn khởi kiện ly hôn hoặc đơn yêu cầu tuyên bố mất tích | Cả hai hướng |
| Giấy chứng nhận kết hôn bản chính | Cả hai hướng |
| Căn cước của người yêu cầu; giấy khai sinh của con | Cả hai hướng |
| Xác nhận địa chỉ cuối cùng, xác nhận người kia bỏ đi | Khởi kiện theo địa chỉ cuối cùng |
| Chứng cứ đã thông báo tìm kiếm (đăng báo, thông báo tại địa phương), xác nhận biệt tích 02 năm | Tuyên bố mất tích |
Án phí ly hôn khi không biết địa chỉ không khác vụ ly hôn thông thường: không có tranh chấp tài sản là 300.000 đồng. Cách tính khi có tranh chấp tài sản xem bài án phí ly hôn 2026.
6. Con chung, tài sản khi ly hôn khi không biết địa chỉ
Khi ly hôn khi không biết địa chỉ của một bên, Tòa án vẫn giải quyết quyền nuôi con theo nguyên tắc vì lợi ích mọi mặt của con. Người trực tiếp nuôi con thường là người đang chăm sóc con thực tế. Việc buộc người vắng mặt cấp dưỡng vẫn được đặt ra, nhưng thi hành án sẽ khó khăn nếu không xác định được nơi ở, tài sản của họ.
Trong ly hôn khi không biết địa chỉ, đối với tài sản chung, nếu người vắng mặt có phần trong tài sản, Tòa án vẫn xem xét chia hoặc giao cho người quản lý tài sản của người vắng mặt theo quy định của Bộ luật Dân sự. Cần cung cấp giấy tờ tài sản đầy đủ để Tòa án xác minh.
Ví dụ tại Hưng Yên
Chị H. kết hôn năm 2015, chồng bỏ đi làm ăn từ tháng 3/2021 và cắt liên lạc hoàn toàn từ đó. Năm 2026, chị muốn ly hôn khi không biết địa chỉ của chồng. Vì chồng đã biệt tích hơn 02 năm, chị có thể yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực nơi chồng cư trú cuối cùng tuyên bố mất tích, rồi yêu cầu ly hôn.
Nếu chị biết chồng vẫn thỉnh thoảng nhắn tin cho người thân nhưng giấu chỗ ở, chị có thể khởi kiện ly hôn theo địa chỉ cuối cùng mà không cần chờ tuyên bố mất tích.
7. Người bị tuyên bố mất tích trở về thì sao?
Theo Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015, khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích. Tuy nhiên, nếu vợ hoặc chồng đã được Tòa án cho ly hôn thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.
Với trường hợp người kia đang ở nước ngoài, có địa chỉ, xem bài ly hôn với người ở nước ngoài.
8. Câu hỏi thường gặp về ly hôn khi không biết địa chỉ
Chồng bỏ đi 1 năm, không biết ở đâu, có ly hôn được không?
Vẫn có thể ly hôn khi không biết địa chỉ, nhưng chưa đủ 02 năm để tuyên bố mất tích. Có thể khởi kiện theo địa chỉ cuối cùng nếu chứng minh được người chồng cố tình giấu địa chỉ.
Có cần đăng báo tìm người trước khi yêu cầu tuyên bố mất tích không?
Người yêu cầu phải chứng minh đã áp dụng biện pháp thông báo, tìm kiếm; trong quá trình giải quyết, Tòa án cũng ra quyết định thông báo tìm kiếm.
Ly hôn khi không biết địa chỉ có phải ra tòa nhiều lần không?
Thường người khởi kiện phải tham gia các buổi làm việc, hòa giải và phiên tòa theo triệu tập; có thể ủy quyền cho người khác tham gia một số thủ tục, trừ những việc luật yêu cầu đích thân.
9. Dịch vụ ly hôn khi không biết địa chỉ tại Luật Phúc Khánh
Luật Phúc Khánh hỗ trợ khách hàng tại Hưng Yên và Thái Bình (cũ) ly hôn khi không biết địa chỉ: đánh giá nên khởi kiện theo địa chỉ cuối cùng hay yêu cầu tuyên bố mất tích; thu thập xác nhận địa chỉ, chứng cứ biệt tích; soạn đơn và đại diện làm việc với Tòa án nhân dân khu vực; tư vấn quyền nuôi con và tài sản khi ly hôn vắng mặt.
GỌI NGAY 0362.296.939 – LUẬT SƯ LY HÔN HƯNG YÊN
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 68, Điều 70).
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (khoản 2 Điều 56), Văn bản hợp nhất 121/VBHN-VPQH năm 2025.
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (thủ tục yêu cầu tuyên bố một người mất tích), được sửa đổi, bổ sung.
- Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Người viết: Hoàng Ngọc Hưng – Công ty Luật TNHH Phúc Khánh
Hotline/Zalo: 0362.296.939 – Nhắn Zalo
Địa chỉ: 61 Chùa Đông, phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên
Bài viết mang tính tham khảo tại thời điểm đăng tải (05/10/2026). Quy định pháp luật có thể thay đổi; vui lòng liên hệ luật sư để được tư vấn cho trường hợp cụ thể.

